Dinh dưỡng và sức khỏe
Bạn nghĩ thế nào khi có thể giảm rủi ro bị bệnh tim, tăng sức mạnh, giữ được vẻ trẻ trung lâu dài chỉ trong vòng một thời gian chưa bằng thời gian coi vài quảng cáo truyền hình. Thật vậy muốn có một sức khoẻ tốt thì cần có thời gian, nhưng không đến nỗi lâu như bạn tưởng. Bạn không cần phải làm những điều thường được khuyên như tập thể dục 30 phút mỗi ngày và ngủ đủ 7 tới 8 tiếng mỗi đêm.
Con người khi về già, các bộ phận trong cơ thể đều lão hóa, yếu đi. Một số điều sau đây luôn ẩn chứa những hiểm họa bất ngờ mà người cao tuổi cần phải lưu tâm đề phòng.
Gần đây, các nhà khoa học Ba Lan đã phát hiện ra rằng, loại khuẩn trùng Campylobacter không chỉ sống trên bề mặt của các loại thịt đỏ mà còn nằm sâu trong gan động vật. Campylobacter bị tiêu diệt ở nhiệt độ cao, song nếu gan chưa được nấu chín kỹ thì chúng vẫn có khả năng gây bệnh.
Người ta thường ví “đau như đau đẻ”, vì thế sanh không đau là niềm mơ ước của tất cả các sản phụ ở khắp nơi trên thế giới kể cả Việt Nam. Để thực hiện niềm mơ ước của các sản phụ, Bệnh Viện Đa Khoa Quốc Ánh đã có 1 đội ngũ Bác Sĩ giàu kinh nghiệm và cơ sở hạ tầng hiện đại để không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ và triển khai phương pháp kỹ thuật mới như kỹ thuật giúp sanh không đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng (NMC). Phương pháp này giúp sản phụ giảm đau trong quá trình chuyển dạ.
Bệnh loãng xương diễn biến từ từ và thầm lặng, người bị bệnh loãng xương không biết mình bị bệnh cho đến khi gặp phải biến chứng gãy xương. Chính vì xảy ra từ từ nên nhiều người lầm tưởng đây là bệnh thông thường không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống.
Ai trong chúng ta cũng bị đau lưng ít nhất một lần trong đời, bệnh này tuy không gây chết người nhưng nếu để thành mạn tính sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, tới chất lượng cuộc sống. Những người có nguy cơ cao bị đau lưng là những người làm việc văn phòng, di chuyển bằng xe hơi, máy bay, những người phải làm công việc nặng nhọc như bê vác...
Ở người cao tuổi, hàm răng dễ bị hư hỏng, lung lay nên cơ nhai yếu ảnh hưởng đến việc cắn, nhai thức ăn. Hơn nữa, khi đã lớn tuổi thì trương lực dạ dày giảm, sức co bóp yếu; dịch nước bọt, dịch vị và các men tiêu hóa giảm cả về số lượng và chất lượng...
Ung thư vú là khi những tế bào ống (duct) hay những tế bào nang (lobule) của vú phát triển bất thường thành tế bào ung thư. Nếu không chữa trị sớm, các tế bào ung thư sẽ phát triển nhanh chóng trong vú, đi vào các mạch máu hay mạch bạch huyết, chạy tới các hạch, và có thể di căn đến các bộ phận khác, gây ra đau đớn và cuối cùng dẫn đến tử vong.
Bệnh viêm gan siêu vi B là bệnh gan do vi-rút viêm gan B gây ra. Vi-rút viêm gan B lây lan từ người này sang người khác qua dịch cơ thể như máu, tinh dịch và dịch tiết âm đạo. Vi-rút viêm gan B cũng có thể truyền từ mẹ sang con trong lúc sanh. Các đường lây truyền thông thường khác bao gồm:
Bệnh ĐTĐ là bệnh lý xảy ra do hậu quả việc rối loạn sản xuất và cung cấp insulin cho cơ thể (IDF).
Bệnh đái tháo đường týp 2là bệnhrối loạn chuyển hóa có đặc điểm rối loạn bất thường đa cơ quan đích bao gồm tế bào bê-ta tụy, cơ vân, mô mỡ và gan (tăng đường huyết, kháng insulin và suy tương đối tiết insulin).
Mục tiêu của dinh dưỡng liệu pháp là gi?
Hổ trợ kiểm soát chuyển hóa trong cơ thể
Giảm yếu tố nguy cơ gây biến chứng trên người bệnh ĐTĐT2
Đột quỵ là thủ phạm gây tử vong cao và gây ra tàn phế nghiêm trọng, lâu dài. Những người còn sống sót sau đột quỵ thì sẽ bị tàn phế cả về tinh thần và thể xác. Những thông tin dưới đây sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về đột quỵ và cách ngăn ngừa.
Mảng bám vi khuẩn hình thành trên bề mặt của răng sau mỗi khi ăn. Nếu đánh răng và dùng chỉ tơ nha khoa không đúng cách, mảng bám vi khuẩn sẽ hình thành, về lâu dài sẽ gây sâu răng và viêm nướu. Đây là lý do tại sao ta phải chải răng và dùng chỉ tơ nha khoa mỗi ngày.
Theo kết quả điều tra người trưởng thành của một cơ quan quản lý về sức khỏe, 10 thói quen nhỏ dưới đây gây nguy hại rất lớn cho sức khỏe chúng ta.
1. Nguyên nhân
Bệnh do siêu vi viêm gan C (HBV = Hepatitis C virus) gây ra, mới được phát hiện từ năm 1989, trước kia người ta cho là virus non A non B. Loại virus này nhiễm vào tế bào gan, gây viêm gan.
1. Dinh dưỡng có vai trò gì trong bệnh gan ?
Gan được xem như là một nhà máy chế biến thức ăn và cung cấp năng lượng cho cơ thể. Khi có bất kỳ một bệnh lý nào ở gan thì việc hoạt động của “nhà máy” sẽ đình trệ, nó cần thời gian để nhà máy được sửa chữa phục hồi. Trong thời điểm này nếu chế độ ăn không hợp lý sẽ làm tình trạng bệnh lý gan nặng hơn và sự phục hồi của gan kéo dài.
1. Bài tiết chất độc
Chủ động ra mồ hôi có thể gia tăng quá trình lưu thông trao đổi chất trong cơ thể, giúp bài tiết các chất độc tích tụ trong cơ thể như: Axit lactic, ure, amoniac.
Tắm nước nóng, dùng xà phòng tắm, uống nước ngay sau khi đánh răng, ngủ hơn 8 giờ một ngày, nằm xuống ngay sau khi ăn... là những thói quen không tốt cho sức khỏe.
Liên kết website
Số lượt truy cập
Hôm nay
382
Hôm qua
724
Trong tuần
4348
Trong tháng 16488
Tất cả
210871
TÌM HIỂU VỀ MEN GAN
1. Men gan là gì ?
Men gan là một loại enzyme bình thường nằm trong tế bào gan, tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất trong cơ thể.
2 . Có bao nhiêu loại men gan ?
Có 4 loại men gan
- AST (Aspartate Transaminase) hay SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) hay ASAT (Aspartate AminoTransferase) là một enzyme ở bào tương và ty thể, hiện diện ở tế bào gan, tim, cơ vân, thận, não và tụy. AST là một men xúc tác trong phản ứng giữa aspartate và alpha-ketoglutarate tạo thành oxaloacetate và glutamate.
- ALT (Alanine Transaminase ) hay SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) hay ALAT (Alanine AminoTransferase) là men trong bào tương, hiện diện chủ yếu ở tế bào gan, chỉ một số ít trong tế bào cơ vân và tim. Vì vậy sự tăng ALT đặc hiệu cho tổn thương tế bào gan hơn so với AST. ALT là một men xúc tác phản ứng transamination (là phản ứng chuyển nhóm amino, men xúc tác cho phản ứng này gọi là transaminase) chuyển nhóm amino từ Alanine sang alpha-ketoglutarate tạo thành sản phẩm Glutamate và Pyruvate. Alanine là một acid amine giữ vai trò quan trọng trong chu trình glucose-alanine giữa gan và mô cơ. Năng lượng tạo được trong những phản ứng của chu trình này dành cho sự co cơ.
- Alkaline phosphatase là một loại men trong tiểu quản màng tế bào gan.
- Gamma Glutamyl Transpeptidase (GGT) là men trong tế bào thành của ống mật.
3. Tại sao men gan tăng trong viêm gan ?
Bình thường khi tế bào gan chết đi do quá trình lão hóa, một lượng men gan sẽ phóng thích vào máu ở nồng độ dưới 40 U/L. Khi tình trạng viêm gan xảy ra dẫn đến sự phá hủy tế bào gan nhiều hơn bình thường làm cho nồng độ men gan trong máu tăng cao. Nếu men gan tăng từ 1-2 lần là mức độ nhẹ, 2-5 lần là mức độ trung bình, tăng trên 5 lần giới hạn bình thường là mức độ nặng.
4. Nguyên nhân gây tăng men gan :
Có rất nhiều nguyên nhân gây tăng men gan nhưng thường gặp là:
- Viêm gan do virus A, B, C, D.
- Viêm gan do thuốc.
- Viêm gan do rượu.
- Viêm gan tự miễn.
- Ứ sắt.
- Wilson.
- Thiếu alpha 1 – antitrypsine.
5. Dự đoán nguyên nhân qua hình thái tăng men gan :
Tăng men gan thường là biểu hiện bất thường sinh hóa đầu tiên ở bệnh nhân viêm gan virus, viêm gan tự miễn hay viêm gan do thuốc. Mức độ tăng men gan có thể tương quan với mức độ lan rộng tổn thương tế bào gan nhưng thường không có ý nghĩa tiên lượng. Viêm gan mạn được qui ước là sự tăng men gan kéo dài hơn 6 tháng.
Ở bệnh nhân viêm gan do rượu AST thường cao gấp 2-10 lần giới hạn bình thường và ALT chỉ ở mức bình thường hoặc tăng nhẹ. Nồng độ ALT tương đối thấp có thể do hậu quả từ sự thiếu pyrydoxal 5-phosphate ở người nghiện rượu là một yếu tố cần thiết cho sự tổng hợp ALT. Ngược lại ở bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ALT thường cao hơn AST.
Men gan có thể tăng lên đến 3000 U/L trong viêm gan virus cấp hoặc viêm gan do thuốc. Ở bệnh nhân suy gan cấp hay sốc gan thì men gan có thể tăng đến 5000 U/L.
Men gan tăng mức độ nhẹ hoặc trung bình thường gặp trong viêm gan virus mạn tính, viêm gan tự miễn, ứ sắt, bệnh lý tự miễn ở ruột non (celiac disease).
Trong vàng da tắc mật men gan thường dưới 500 U/L.
6. Men gan thấp trong trường hợp nào ?
Men gan thấp có thể liên quan đến hội chứng ure huyết hoặc ở người lọc thận định kỳ. Viêm gan virus mạn tính trên những đối tượng này có thể men gan không tăng.
Bs Trần Quốc Trung
Men gan là một loại enzyme bình thường nằm trong tế bào gan, tham gia vào quá trình chuyển hóa các chất trong cơ thể.
2 . Có bao nhiêu loại men gan ?
Có 4 loại men gan
- AST (Aspartate Transaminase) hay SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) hay ASAT (Aspartate AminoTransferase) là một enzyme ở bào tương và ty thể, hiện diện ở tế bào gan, tim, cơ vân, thận, não và tụy. AST là một men xúc tác trong phản ứng giữa aspartate và alpha-ketoglutarate tạo thành oxaloacetate và glutamate.
- ALT (Alanine Transaminase ) hay SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) hay ALAT (Alanine AminoTransferase) là men trong bào tương, hiện diện chủ yếu ở tế bào gan, chỉ một số ít trong tế bào cơ vân và tim. Vì vậy sự tăng ALT đặc hiệu cho tổn thương tế bào gan hơn so với AST. ALT là một men xúc tác phản ứng transamination (là phản ứng chuyển nhóm amino, men xúc tác cho phản ứng này gọi là transaminase) chuyển nhóm amino từ Alanine sang alpha-ketoglutarate tạo thành sản phẩm Glutamate và Pyruvate. Alanine là một acid amine giữ vai trò quan trọng trong chu trình glucose-alanine giữa gan và mô cơ. Năng lượng tạo được trong những phản ứng của chu trình này dành cho sự co cơ.
- Alkaline phosphatase là một loại men trong tiểu quản màng tế bào gan.
- Gamma Glutamyl Transpeptidase (GGT) là men trong tế bào thành của ống mật.
3. Tại sao men gan tăng trong viêm gan ?
Bình thường khi tế bào gan chết đi do quá trình lão hóa, một lượng men gan sẽ phóng thích vào máu ở nồng độ dưới 40 U/L. Khi tình trạng viêm gan xảy ra dẫn đến sự phá hủy tế bào gan nhiều hơn bình thường làm cho nồng độ men gan trong máu tăng cao. Nếu men gan tăng từ 1-2 lần là mức độ nhẹ, 2-5 lần là mức độ trung bình, tăng trên 5 lần giới hạn bình thường là mức độ nặng.
4. Nguyên nhân gây tăng men gan :
Có rất nhiều nguyên nhân gây tăng men gan nhưng thường gặp là:
- Viêm gan do virus A, B, C, D.
- Viêm gan do thuốc.
- Viêm gan do rượu.
- Viêm gan tự miễn.
- Ứ sắt.
- Wilson.
- Thiếu alpha 1 – antitrypsine.
5. Dự đoán nguyên nhân qua hình thái tăng men gan :
Tăng men gan thường là biểu hiện bất thường sinh hóa đầu tiên ở bệnh nhân viêm gan virus, viêm gan tự miễn hay viêm gan do thuốc. Mức độ tăng men gan có thể tương quan với mức độ lan rộng tổn thương tế bào gan nhưng thường không có ý nghĩa tiên lượng. Viêm gan mạn được qui ước là sự tăng men gan kéo dài hơn 6 tháng.
Ở bệnh nhân viêm gan do rượu AST thường cao gấp 2-10 lần giới hạn bình thường và ALT chỉ ở mức bình thường hoặc tăng nhẹ. Nồng độ ALT tương đối thấp có thể do hậu quả từ sự thiếu pyrydoxal 5-phosphate ở người nghiện rượu là một yếu tố cần thiết cho sự tổng hợp ALT. Ngược lại ở bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ALT thường cao hơn AST.
Men gan có thể tăng lên đến 3000 U/L trong viêm gan virus cấp hoặc viêm gan do thuốc. Ở bệnh nhân suy gan cấp hay sốc gan thì men gan có thể tăng đến 5000 U/L.
Men gan tăng mức độ nhẹ hoặc trung bình thường gặp trong viêm gan virus mạn tính, viêm gan tự miễn, ứ sắt, bệnh lý tự miễn ở ruột non (celiac disease).
Trong vàng da tắc mật men gan thường dưới 500 U/L.
6. Men gan thấp trong trường hợp nào ?
Men gan thấp có thể liên quan đến hội chứng ure huyết hoặc ở người lọc thận định kỳ. Viêm gan virus mạn tính trên những đối tượng này có thể men gan không tăng.
Bs Trần Quốc Trung
Các bài viết khác
Các thói quen làm tổn thương não(2012-07-27 15:58:09)
5 loại thực phẩm đứng hàng đầu trong việc gây ung thư(2012-07-27 15:56:06)
PHẪU THUẬT THAY KHỚP GỐI(2012-02-03 13:42:27)
PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG NHÂN TẠO(2012-02-03 08:42:43)
5 thói quen có hại cho sức khỏe mà bạn không để ý(2011-12-14 14:44:34)
8 tác dụng "hay ho" của mồ hôi(2011-12-14 14:41:07)
Bệnh viện quốc ánh

Chi tiết


.jpg)
.jpg)

